Bạn có biết kỳ thi cuối cùng thời phong kiến là năm nào ?

Bạn có biết kỳ thi cuối cùng thời phong kiến là năm nào ?

Bạn có biết kỳ thi cuối cùng thời phong kiến là năm nào ?

Bạn có biết kỳ thi cuối cùng thời phong kiến là năm nào ?

Bạn có biết kỳ thi cuối cùng thời phong kiến là năm nào ?

0915644811

07h30 – 21h00

TP.TDM, BÌNH DƯƠNG

Vlog

Bạn có biết kỳ thi cuối cùng thời phong kiến là năm nào ?

14/05/2021

584

Kỳ thi cử lần cuối cùng dưới triều đại Nhà Nguyễn vào thời Vua Khải Định, lúc bấy giờ hiện trạng đất nước rối ren khi bị thực dân Pháp đô hộ, phần nào làm ảnh hưởng nền giáo giục trong nước. Nền tảng củ không đáp ứng được những xu thế phát triển theo tương lai

Kỳ thi cử năm Kỷ Mùi (1919) là kỳ thi Nho học cuối cùng ở nước ta được tổ chức vào tháng 4 năm ấy.

Bấy giờ Vua Khải Định đưa ra lời phê tờ trình của bộ Học như sau: “Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ đây dứt hẳn. Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt” ( sách Khải Định chính yếu ).

Theo quy định từ lâu đời, sĩ tử muốn dự kỳ thi Hội phải vượt qua được kỳ thi Hương nhưng do đây là khoa thi cuối cùng nên đối tượng dự thi được mở rộng hơn.

Trong lời phê chuẩn thể thức kỳ thi Hội năm đó, vua Khải Định nói: “Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều đình nên trẫm muốn gia ân cho sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình lên bộ Học để xin vào ứng thí, lấy tên khoa này là Ngự tứ ân khoa”.

Ngoài ra theo trình tấu của bộ Học, Vua còn đặc cách cho phép các tỉnh Trung Kỳ, mỗi tỉnh xét cử 3 người là Tú sĩ  “có thực tài đồng thời tinh thông cả chữ Nho và chữ Pháp” .

Đề thi do vua trực tiếp đưa ra về các nội dung sau: Văn minh là gì? Quan hệ của văn minh đến chuyện hòa bình hay chiến tranh, hưng thịnh hay suy thoái, phân chia hay hội họp? Vấn đề khai thác và tận dụng lợi thế về tài nguyên.

Lối khoa trường cựu học đã bỏ, chuyển sang tân học thì phép tuyển dụng người đã tốt hay chưa? Quốc sự, quốc chính phải thay đổi do đó có nên lập ra Hiến pháp và Hiến pháp khi lập ra có thực hiện được không? Chính sách lập hiến và quyền pháp phải như thế nào? Làm gì để đền đáp sức dân, giúp dân an cư lạc nghiệp, giữ gìn văn minh tiến bộ?

Vua Khải Định bày tỏ: “Trẫm vốn tài mỏng đức sơ, suy nghĩ khó được chu toàn. Các ngươi với tài kinh luân vốn có hãy thử trình bày rõ ràng kiến giải của mình, không a dua, quanh co, xuyên tạc khiến sai sót khi đem thực hành, cũng đừng quá khéo dùng lời lẽ bay bướm mà trống rỗng chẳng có được phương sách gì hay, để trẫm thu lượm rồi thử đem áp dụng” (Khải Định chính yếu sơ tập).

Khoa thi này triều đình lấy đỗ tổng cộng 23 người, trong đó có 7 người đỗ Tiến sĩ, 16 người đỗ phó bảng. Đoạt danh hiệu đứng đầu là Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Phong Di.

Có 7 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, đó là:

1. Nguyễn Phong Di (1889-?) người xã Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa), thi đỗ năm 31 tuổi.

2. Trịnh Hữu Thăng (1885-?) nguyên quán ở xã Bách Tính, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay thuộc xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư, Thái Bình), sau đến ở phố Định Tả, tỉnh Nam Định (nay thuộc TP Nam Định, tỉnh Nam Định), thi đỗ năm 35 tuổi.

3. Lê Văn Kỷ (1892-?) người thôn Lạc Thiên, xã Cổ Ngu, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), thi đỗ năm 28 tuổi.

4. Nguyễn Cao Tiêu (1887-?) người xã Bản Thủy, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), thi đỗ năm 33 tuổi.

5. Bùi Hữu Hưu (1880-?) người xã An Ninh Thượng, huyện Hương Trà phủ Thừa Thiên (nay thuộc xã Hương Long, TP. Huế), thi đỗ năm 40 tuổi.

6. Vũ Khắc Triển (1883-?) người xã Mỹ Lộc, huyện Phong Phú, tỉnh Quảng Bình (nay thuộc xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình), thi đỗ năm 37 tuổi.

7. Dương Thiệu Tường (1895-?) người xã Vân Đình, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông (nay là xã Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội), thi đỗ năm 25 tuổi.

THI HƯƠNG ?

Thi Hương: Là kỳ thi của một tỉnh hay nhiều tỉnh chung một trường thi. Thời Lê nước ta có 9 trường, thời Nguyễn có 7 trường.

Từ đời vua Gia Long (1807) đến vua Khải Định (1919), nhà Nguyễn tổ chức được 42 khoa thi Hương, 39 kỳ đại khoa lấy đỗ 2 bảng nhãn, 9 thám hoa, 547 tiến sĩ.

Năm 1831 ở phía Bắc có hai trường: Trường thi Hà Nội (gồm các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Ninh Bình, Thanh Hóa) và trường thi Nam Định (gồm các tỉnh Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Quảng Yên).

Phép thi Hương được quy định từ thời Lê Thánh Tông, gồm có 4 kỳ thi. Đỗ kỳ trước mới được dự kỳ sau.

+ Người đỗ 2 kỳ gọi là Tú kép.

+ Đỗ 3 kỳ gọi là Tú mền.

+ Người đỗ 4 kỳ thi Hương được chia làm hai kiểu: Kiểu 1 gọi là Cống sỹ hay Hương cống. Kiểu 2 gọi là Sinh đồ, kiểu này không được thi Hội.

Đỗ đầu thi Hương được tuyên dương giải nguyên. Đến đời Minh Mệnh (1820 - 1840) đổi các danh hiệu Cống sỹ, Hương cống thành Cử nhân và Sinh đồ thành Tú tài.

Thí sinh trúng tuyển trong kỳ thi Hương ( đô loại 1) thì mới được thi Hội.

THI HỘI VÀ THI ĐÌNH ?

Thi Hội và thi Đình là các kỳ thi để đánh giá tài năng cao nhất nhằm chọn nhân tài cho đất nước nên gọi là Đại khoa.

Thí sinh thi Hội phải qua bốn môn thi (mỗi môn gọi là một trường). Thí sinh phải đủ điểm ở trường một mới vào được trường hai v.v... Đến trường thứ tư, người nào đủ điểm chuẩn quy định gọi là Trúng cách, tức là đỗ thi Hội. Người cao điểm nhất trong số thi đỗ gọi là Hội nguyên. Danh sách tiếp theo cũng ghi theo thứ tự điểm số từ trên xuống dưới. Nhưng thứ tự này (kể cả Hội nguyên) cũng chưa phải là học vị chính thức.

Sau vài ngày, có khi vài tuần những người thi trúng cách được gọi vào hoàng cung để thi tiếp gọi là thi Đình (Điện thí), thi tại sân triều đình do vua trực tiếp ra đề thi và tự tay phê lấy đỗ.

Ngày tuyên bố kết quả, các quan tân khoa được tiếp đãi lễ Đại triều tại Điện Thái Hòa, được ban mũ áo, ban yến ở vườn Quỳnh Lâm, cho cưỡi ngựa đi xem kinh thành, phố xá.

Sau khi thi đỗ các Tân Khoa được về Vinh Quy Bái Tổ. Làng nào có người đỗ đại khoa phải đón rước linh đình. Theo phong tục, đỗ tú tài một làng đi rước, đỗ cử nhân một tổng đi rước, đỗ đại khoa một huyện đi rước, dân hàng tổng phải làm dinh nghè cho quan ở và người đỗ đạt cũng phải làm lễ tạ ơn dân làng và thày dạy. Triều đình cho quan Tuyên lô xướng danh và yết bảng ba ngày tại lầu Phú văn, cho dựng bia, chép sách lưu danh Tiến sỹ để nêu gương muôn thuở.

GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC 1945

Năm 1862, Pháp lập Trường Thông ngôn (Collège des interprètes) ở Sài Gòn, mục đích chính là đào tạo nhân sự cho chính quyền người Pháp.

Tiếp đó, Trường d'Adran (Collège D'Adran) ở Sài Gòn do Hội Thừa sai Paris lập nên và sau do dòng tu Lasan quản nhiệm nuôi dạy trẻ em nghèo.

Ngày 20 Tháng Hai năm 1873 chính quyền cho lập Trường Hậu bổ ở Sài Gòn (Collège des Stagiares) do Jean Luro điều hành để đào tạo công chức người Pháp khi sang nhận nhiệm sở Đông Dương. Trương Vĩnh Ký được bổ làm Chánh đốc học

Năm 1903 lập Trường Hậu bổ, Hà Nội rồi Trường Hậu bổ, Huế (năm 1911) với mục đích đào tạo nhân sự hành chính.

Năm 1905, Toàn quyền Đ D Paul Beau cho thành lập Hội đồng Cải cách Học vụ. Ngày 14 tháng 11 năm 1905 lập Nha Giám đốc Học chính dưới sự điều hành của Henri Gourdon.

Theo Nha Học chính thì trường sở sẽ chia thành ba cấp:

- Ấu học giao cho xã thôn dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ; ai đậu thì gọi là "tuyển sinh.

- Tiểu học do phủ, huyện có huấn đạo và giáo thụ đảm trách, tiếp tục dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ và có thể tình nguyện học thêm tiếng Pháp chứ không bắt buộc.

- Trung học do quan đốc học ở tỉnh lỵ trông coi và dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Đây bước đầu của chữ Quốc ngữ trong ngành giáo dục của người Việt.

Trong thời gian này Pháp lập trường Quốc học Huế và trường Bảo hộ ở Hà Nội (nay là THPT Chu Văn An) để dạy trung học.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Toàn quyền Albert Sarraut là người ban hành Tổng quy học chính và cho khai giảng Viện Đại học Đông Dương, thêm các phân khoa Y dược, Thú y, Thủy lâm, Sư phạm, Thương mại, Tài chính, Luật khoa hành chánh, và Mỹ thuật.

Giai đoạn 1917-1945, đánh dấu đợt cải cách giáo dục lần thứ hai bằng việc thiết lập chương trình học chính Pháp - Việt, mở đầu bằng sự kiện ngày 21/12/1917 Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi Đông Dương. Văn bản được xem như bộ luật giáo dục, với mục tiêu thống nhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục cũ.

Nền học chính lúc này được chia làm ba cấp, cấp một là các trường tiểu học, cấp hai là cao đẳng tiểu học, cấp ba là bậc trung học (tú tài), với hai hệ thống giáo dục gồm trường Pháp và trường Pháp bản xứ. Chương trình giáo khoa Pháp ở Đông Dương gần giống như bên Pháp, dành cho học sinh Pháp và một số ít học sinh Việt vào làng Tây hoặc được coi như Tây.

Nguồn: Thầy Trần Huy Đoàn Chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định